Trước đây, nguồn lươn giống phục vụ cho nhu cầu nuôi chủ yếu dựa vào tự nhiên bằng nhiều hình thức khai thác khác nhau như: xúc mô, đặt dớn và kể cả sử dụng mồi thuốc, xuyệt điện… nên nguồn lươn giống không đáp ứng về mặt số lượng cũng như chất lượng. Do đó, muốn có đủ lươn giống đáp ứng cho nhu cầu nuôi, đặc biệt là nuôi với quy mô thâm canh thì cần phải chủ động sản xuất con giống nhân tạo. Các nghiên cứu gần đây cho thấy có thể tiến hành sinh sản nhân tạo lươn đồng theo quy trình kỹ thuật như sau:
1.Nuôi vỗ
Thả khoảng 50-60 con lươn đồng cỡ 30-40cm bể/6m2. Cần thả lươn trong mùa sinh sản, sau đó tiến hành nuôi vỗ để cho sinh sản nhân tạo. Nên bố trí nuôi vỗ trong bể sử dụng giá thể là dây nylon để thuận tiện cho việc kiểm tra đánh giá mức độ thành thục của lươn và lựa chọn đực cái để tiến hành tiêm kích dục tố cho sinh sản. Cho lươn ăn ngày 1 lần với các loại thức ăn như: trùn quế, tép, ốc, cá băm nhỏ, dòi…Mỗi lần cho lươn ăn khoảng 300g – 500g. Mỗi tuần thay nước một lần (nên rút cặn hằng ngày). Hoặc tùy theo chất lượng nước của bể mà thay cho phù hợp.
2.Tiêm kích dục tố và bố trí sinh sản
Định kỳ kiểm tra và lựa chọn các cá thể thành thục tốt tiến hành tiêm kích dục tố và bố trí điều kiện cho sinh sản. Kết quả nghiên cứu bước đầu cho thấy sử dụng kích thích tố HCG với 3 liều dẫn 300UI/kg và liều quyết định 2.000UI/kg đều có tác dụng kích thích sinh sản đối với lươn đồng.
3. Ương lươn đồng
Trứng lươn thường nằm lẫn trong các đám bọt, nên khi phát hiện các đám bọt cần vớt trứng ra và tiến hành ấp. Ở nhiệt độ trung bình 300C sau 1 tuần ấp trứng lươn sẽ nở. Sau khi nở lươn vẫn còn mang khối noãn hoàng rất to, sau 1 tuần khối noãn hoàng mới tiêu biến, lúc này ta bắt đầu cho lươn ăn. Thức ăn ban đầu thường sử dụng là trùn chỉ. Sau khi ương 1-1,5 tháng ta có thể tập cho lươn ăn dần các loại thức ăn như tép, cá...cho đến khi lươn đã quen với các loại thức ăn kể trên, thì có thể chuyển sang nuôi lươn thương phẩm.
Lươn là loài cá sống chui rúc ở dưới bùn. Tùy điều kiện: địa hình, cách quản lý chăm sóc, chọn giống, thức ăn, phòng trị bệnh tật... mà có các hình thức nuôi khác nhau.
1. Bể nuôi lươn
Bể nuôi lươn phải phù hợp với điều kiện sống tự nhiên của lươn, đảm bảo độ cao để lươn không vượt qua được, không nên xây bể quá rộng. Chiều dài của mỗi bể nuôi có thể từ 2 - 5 m. Chọn nơi dễ lấy nước vào và thoát nước ra. Bể được xây chìm dưới mặt đất từ 20 - 40 cm, đáy đổ lớp bùn nhuyễn, khoảng 20 - 40 cm, lớp nước 10 - 20 cm.. Trong bể , bố trí một nơi cố định làm chỗ cho lươn ăn, để tiện việc vệ sinh. Bể nuôi lươn có thể làm mái che thoáng, hoặc giàn cây leo phía trên, hoặc thả bèo tây chiếm 1/2 diện tích mặt nước. Đáy ao bằng đất sét trộn với cát vôi. Cách đáy ao khoảng 40 cm có lỗ cống thoát nước hình tròn, miệng cống có thiết bị chắn cho lươn không trốn đi. Bể xây cao 1 - 1,5 m. Đáy cho một lớp đất giàu mùn, dày 20 - 30 cm, thả thêm rong làm tổ cho lươn. Thành bể cao hơn mặt nước 30 cm. Mép tường trên có gờ để chống lươn tuồn ra ngoài.
2. Ao nuôi lươn Chọn nơi đất cứng, đào sâu 20 - 40 cm, bờ cao 40 - 60 cm rộng 1 m, bờ và đáy ao phải nện chặt, có điều kiện lót khắp đáy ao một lớp giấy dầu và một lớp ni lông và bờ tường rồi phủ một lớp bùn hay bùn trộn cỏ, dày 20 - 30 cm. Trong ao có thể thả một ít bèo tây hay bèo cái làm nơi trú ẩn cho lươn. Xung quanh ao trồng một ít cây có giàn để che mát. Ở ao lớn có thể thả thêm bó rơm, cỏ mục trong ao, lươn thích rúc vào đó tìm mồi ăn. Mức nước ở ao ngập 10 - 15 cm để lươn nằm trong hang luôn ngóc đầu lên thở và đớp mồi, mức nước sâu quá ảnh hưởng đến sức lớn.
3. Thả lươn giống Mua lươn giống ở chợ về phải chọn kỹ, (mỗi kg khoảng 30 - 40 con) thân hình khỏe, không bị thương, không mua lươn câu để làm lươn giống. Trước lúc thả cần sát trùng lươn giống để trị bệnh nấm hoặc bệnh ký sinh trùng.
4. Mật độ thả Dùng vôi tẩy ao trước khi thả 7 - 10 ngày, cho 0,2 kg/m 2 ao để diệt các mầm bệnh. Lươn giống cỡ 10 - 15 cm, thả mật độ 50 - 60 con/m 2 (1 - 1,5 kg/m 2 ), thả cùng cỡ.
5. Thức ăn Dùng thức ăn sẵn có, rẻ tiền như sâu bọ, giun, nòng nọc, nhộng tằm, tôm tép, cá vụn, phế phẩm các lò mổ, thịt trai, hến... Không cho lươn ăn thức ăn đã ươn thối. Hệ số thức ăn 7 - 8/1 với giun đất, 10/1 với thịt trai, hến...
6. Chăm sóc ao nuôi Mùa lớn của lươn từ tháng 4 - 10, lớn nhanh từ tháng 5 - 9. Quá trình chăm sóc cần chú ý: - Cho ăn định giờ và định lượng: Lượng thức ăn cho mỗi ngày bằng 5 - 7% trọng lượng lươn trong ao. Hàng ngày cho ăn lúc 6 - 7 giờ tối, sáng hôm sau vứt bỏ thức ăn thừa đề phòng thối nước ao. Thời kỳ đầu cần luyện cho lươn con quen ăn được nhiều loại thức ăn, tránh cho ăn mãi một loại thức ăn, lươn sẽ không ăn loại khác. - Luôn giữ nước ao trong sạch: Khi ao bị thối bẩn, cần thay nước ngay. Nên trồng các loại cây chịu nước để làm sạch nước, tạo môi trường sinh thái thích hợp. Khi mưa to, tháo bớt nước tránh làm tràn lươn đi mất. Mùa hè làm giàn che trên mặt ao. - Bón phân: Đến mùa sinh sản cần thả các bó cây khô vào ao để lươn cái sau khi đẻ thì lươn con bám vào đó, vớt lươn con sang nuôi ao khác, lươn con ăn chủ yếu động vật phù du nhờ bón phân. - Nuôi lươn qua đông: Cuối mùa thu, đầu mùa đông, khi nhiệt độ nước xuống thấp 10 - 12 độ C lươn ngừng ăn và chui xuống bùn. Tháo cạn nước ao chỉ còn nước sâm sấp mặt bùn, phủ dày rơm rạ lên trên, lươn rúc trong bùn được che ấm. - Phòng lươn bò trốn: Lươn rất hay bò đi nơi khác nhất là lúc trời mưa liên tục, lỗ cống bị thủng hay đáy ao bị nứt nẻ. Phải thường xuyên kiểm tra, kịp thời sửa chữa. Phòng gia súc, gia cầm ăn hại. Buổi tối lươn hay ngoi lên cạn có thể bị mèo, chuột bắt ăn.
7. Các mô hình nuôi ghép a) Nuôi ghép với trùn
Cách nuôi này đơn giản, đầu tư ít, hiệu quả kinh tế cao, đã thực hiện ở Trung Quốc. - Ao xây: Ao xây bằng gạch có trát xi măng thật nhẵn. Diện tích ao từ 30, 50 hay 80m2. Tường cao 0,8 - 1m, có cống cấp nước, phía đối diện mở cống thoát nước. Miệng cống chắn bằng lưới sắt. - Lên liếp: Liếp rộng 1,5 m, cao hơn mặt nước 25 cm, cách nhau bằng rãnh nước sâu 20 cm. Các rãnh thông với nhau, đầu vào chung qua cửa cấp nước, đầu ra chung một cửa thoát nước. Dùng loại đất màu chứa nhiều mùn hữu cơ để đắp lên mặt liếp tạo cho giun dễ sinh sản và lươn dễ chui rúc kiếm mồi. - Nuôi giun : Cho nước ngập rãnh 5 - 10 cm, cấy giun giống vào liếp. Mật độ 2,5 - 3 kg/m2 . Rải phân chuồng đã ủ hoai lên mặt liếp để tạo môi trường cho giun sinh sản, cách 3 - 4 ngày thay vào lớp phân mới 4 - 5 kg/m2 (vẫn phân chuồng ủ hoai). Sau khoảng 14 ngày thấy giun phát triển dày đặc bắt đầu thả lươn giống vào rãnh. - Mật độ thả lươn giống: Mật độ thả: 3 - 4 kg/m2 , tỉ lệ sống trên 90% khi thu hoạch 6 - 10 con/1 kg. - Quản lý, chăm sóc: Suốt trong quá trình nuôi, rãnh nước giữ mức sâu khoảng 10 cm và luôn chảy nhẹ. Giun nuôi phát triển liên tục, lươn tự rúc bắt giun ăn, không phải cho ăn bất cứ loại thức ăn nào khác. - Thu hoạch: Tùy theo mật độ nuôi và điều kiện chăm sóc... nuôi lươn ở các hình thức trên, năng suất bình thường đạt 5 - 10 kg lươn/1 m2 .
b) Nuôi với ba ba, ruà Hiện nay, để tăng năng suất nuôi trồng, việc thực hiện nuôi ghép nhiều giống loài thủy sản thường được áp dụng. Ở Giang Tô (Trung Quốc), đã sắp xếp các ao nuôi thành ba cấp: - Ao cấp 1: Là nuôi lươn và thả bèo tấm ở trên mặt nước có tác dụng làm sạch nước và lấy bèo để nuôi ao cấp 2. - Ao cấp 2: Nuôi ba ba và ốc Cipangopuludina chinensis, ốc ăn bèo tấm, thịt ốc làm thức ăn cho ba ba. Nước thải và thức ăn thừa ở ao cấp 1, 2 chảy sang ao cấp 3. - Ao cấp 3: Nuôi rùa kết hợp với nuôi dòi, nuôi giun. Dòi và giun làm thức ăn cho lươn, ba ba, rùa. Phương pháp trên đã hạ giá thành và đã lợi dụng tổng hợp vòng tuần hoàn sinh thái.
8. Phòng chữa bệnh cho lươn Ngoài thiên nhiên lươn có sức chịu đựng cao nhưng nuôi với mật độ dày lươn dễ bị bệnh. a. Nguyên nhân do lươn bị xây xát khi vận chuyển, nhiệt độ thay đổi đột ngột, do kí sinh trùng gây ra, hay chế độ chăm sóc chưa hợp lý. b. Phòng bệnh: phòng bệnh là chính. Chọn Lươn giống không bị xây xát. Trước khi thả lươn, làm vệ sinh bể (ao) nuôi, phải tắm lươn giống bằng nước muối với nồng độ 3 - 4% trong 5 phút, hay Oxyclorit canxi có nồng độ 10 ppm, thực hiện cho ăn đủ lượng đủ chất và đúng giờ. c. Một số bệnh thường gặp * Bệnh sốt nóng - Nguyên nhân: Do nuôi với mật độ. Khi nhiệt độ nước tăng lên làm hàm lượng oxy giảm. - Triệu chứng: Lươn bị xáo động trong bể, dịch nhầy tiết vào trong nước, độ nhớt của nước tăng lên, đầu lươn sưng phồng to, lươn chết hàng loạt. - Phòng trị: Giảm mật độ nuôi, thay nước, thả tạm vài con cá trê để chúng ăn thức ăn thừa, đảm bảo tốt chất lượng nước. * Bệnh lở loét - Nguyên nhân do ký sinh trùng, vi trùng bám vào vết thương. - Triệu chứng: Trên mình lươn xuất hiện nhiều vết tròn hay hình bầu dục. Da bị lở loét gọi là bệnh đóng dấu, nếu bị nặng đuôi lươn bị rụng, bơi lội khó khăn, thường xảy ra vào tháng 5 - 9. - Phòng trị: Trước khi nuôi, sát trùng ở bể bằng vôi, vào mùa hay mắc bệnh cần phun thuốc Streptomycin ở toàn bể. * Bệnh nấm thủy mi - Nguyên nhân: Do mốc ký sinh trên mình hay trứng lươn gây ra, thường xảy ra vào mùa xuân - thu, sợi hình bông bám vào lươn để hút dinh dưỡng. - Phương pháp phòng trị: Trước khi thả lươn, vệ sinh bể nuôi, bằng vôi hòa tan đều, tưới vào bể. Ngâm lươn vào trong nước muối, ngâm trứng lươn vào dung dịch xanh methylen. * Bệnh tuyến trùng - Nguyên nhân: Do ký sinh trùng đường ruột gây nên. - Triệu chứng: tuyến trùng màu trắng dài khoảng 1 cm đầu bám vào niêm mạc phá hoại mô, hình thành bào nang gây viêm ruột sưng đỏ. Nếu ký sinh với khối lượng lớn, lươn yếu, hậu môn sưng đỏ, sẽ chết dần. - Phòng trị: dùng Dipterex trộn vào thức ăn cho lươn ăn * Bệnh đỉa - Nguyên nhân: Do đỉa bám vào để phá hoại mô bì, hút máu lươn khiến cho vi trùng xâm nhập gây viêm nhiễm, lươn yếu, chậm chạp, kém ăn, ảnh hưởng đến sinh trưởng của lươn. * Phòng trị: Dùng Dipterex hay dùng dung dịch Sunphat đồng ngâm rửa.
1. Hình thức nuôi Tuỳ theo điều kiện cụ thể có thể chọn hình thức nuôi lươn cho thích hợp. Nhưng dù nuôi theo hình thức nào thì vấn đề cần quan tâm là tạo được điều kiện tốt nhất cho lươn làm tổ và sinh sống.
a. Nuôi lươn trong hồ lót cao su - Diện tích ao nuôi lươn phụ thuộc vào điều kiện thực tế của từng nơi. Bờ ao đầm nén kỹ và đủ độ rộng (1,5 - 2,0 m) vừa có tác dụng giữ nước vừa có tác dụng chống lại việc lươn đào hang qua bờ. Không nên nuôi lươn trong các ao có diện tích quá lớn. - Ở ĐBSCL, các ao nuôi lươn có diện tích từ 100 - 200 m2. Xung quanh bờ và đáy ao có thể dùng nylon để lót hoặc bờ ao có thể xây cao có gờ để tránh lươn vượt bờ đi mất khi có điều kiện thuận lợi. Nơi nuôi lươn phải có điều kiện thay nước thuận lợi và cũng cần tạo được nơi cho lươn đào hang trú ẩn gần giống như trong tự nhiên. - Đáy ao có thể phủ đáy ao một lớp bùn non có trộn phân chuồng mục dày khoảng 20 - 30 cm. Bùn không lẫn sỏi đá vì sẽ làm xây xát lươn. Trên lớp bùn, trải một lớp rơm, cỏ mục hay thân cây chuối đã mục. Mực nước trong ao nuôi sâu từ 0,3 - 0,5 m. - Ðể tạo điều kiện cho lươn sinh sản trong ao, xung quanh bờ ao (hoặc làm cù lao/gò đất giữa ao nuôi) bằng đất sét để lươn làm tổ. Trong ao nên thả thêm lục bình, bèo, rau muống và trên bờ trồng cây để tạo bóng mát cho lươn.
b. Nuôi lươn trong bể xi măng
- Có thể tận dụng bể chứa nước, chuồng heo sau khi đã sửa chữa lại để nuôi lươn. Nếu xây bể nuôi mới thì nên xây nửa nổi, nửa chìm với chiều cao khoảng 1m với diện tích từ 6 - 20 m2. Bể có dạng hình chữ nhật chiều rộng 1m để dễ dàng chăm sóc. Tốt nhất nên chia bể thành 3 ngăn: ngăn cho lươn sinh sống (A) lớn nhất, ngăn thứ hai (B) nhỏ hơn cho lươn đẻ và cho ăn và ngăn thứ ba (C) dùng để thu hoạch. - Ngăn A có phủ một lớp bùn non và thân chuối như đối với ao nuôi và cách đáy bể 30 cm có lổ thoát nước. Xếp gạch ở đáy trong ngăn này thành nhiều ngách. Ngăn B xây vách bằng gạch hình mắt cáo cho lươn chui ra vào và quanh bên có đắp đất sét và đất thịt thành bờ rộng 0,5 m để lươn làm tổ đẻ. Ngăn C kín và thông với ngăn B bằng một ống có đường kính 20 cm và có lổ thoát nước ra ngoài có lưới chắn dạng chảy tràn phòng khi mưa to nước đầy, lươn sẽ thoát ra ngoài. - Trong bể nuôi thả bèo, lục bình làm bóng mát khoảng 1/2 diện tích. Bờ đất cũng trồng các loại như cỏ, rau, khoai, môn để che mát cho lươn. Mức nước 0,4 - 0,5m.
2. Giống lươn nuôi
- Hiện nay, do nhiều nguyên nhân khác nhau nên lươn giống nhân tạo chưa cung cấp đủ cho người nuôi, cho nên người nuôi lươn vẫn phải dựa vào nguồn giống tự nhiên là chính. Tuy nhiên muốn nuôi lươn có kết quả thì lươn giống phải bảo đảm: + Kích cỡ tương đối đồng đều. Thường chọn lươn giống có kích cỡ 40 - 50 con/kg. + Khỏe mạnh, không thương tích hay bị bệnh. - Chú ý không mua lươn giống trôi nổi trên thị trường nếu chưa biết rõ thời gian thu gom lươn, phương thức khai thác lươn giống. Nếu thời gian thu gom lươn giống quá dài lươn bị mất sức, xây sát thì khi nuôi tỷ lệ hao hụt sẽ cao. - Nếu nuôi lươn để sinh sản thì mật độ thả khoảng 6 - 8 con/m2 và sau khi nuôi vỗ khoảng 1 - 2 tháng chúng sẽ tự đẻ. Sau đẻ khoảng một tuần thì trứng nở ở điều kiện nhiệt độ từ 28 - 30oC. Nếu nuôi lươn thịt, thả với mật độ trung bình 50 con/m2.
3. Chăm sóc và quản lý - Thức ăn chủ yếu dùng cho lươn ăn bao gồm: xác động vật chết như gà, vịt băm nhỏ, cá, tôm, động vật sống như giun đất, bọ, ốc, dòi. Khi trưởng thành có thể tập cho lươn ăn thức ăn chế biến có hàm lượng đạm 20 - 25%. - Một số hộ nuôi lươn ở Hậu giang đã tận dụng ốc bươu vàng làm thức ăn nuôi lươn cũng cho kết quả tốt.